BÁC HỒ KÍNH YÊU

THẦN TÀI ĐẾN NĂM MỚI

TIN NÓNG ONLINE

CÀ FÊ SÁNG NHÉ

Tin tức online

KHU LIÊN KẾT HAY

LIÊN KẾT CÁC TRANG BÁO

DƯ BÁO THỜI TIẾT

Thời tiết một số địa phương ở nước ta

Nhiệt độ - Thời Gian - Độ ẩm


Hà Nội

Thi tit mt s vùng  nc ta

Tp Hồ Chí Minh

Thi tit Tp H Chí Minh

Huế

Thi tit Hu

Cà Mau

Thi tit Cà Mau

Nha Trang

Thi tit Nha Trang

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (nglaicm@yahoo.com.vn)
  • (nglai1568@gmail.com)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Hinh_nen_web_1.gif THCS_HUIYNH_PHAN_HO1.bmp EXiter.jpg Buel1125R_rrear34.jpg Bmws1000rr66271920x1200.jpg Bmwr1200s63361920x1200.jpg 024132476.jpg 024132474.jpg 024132465.jpg 9nbetawp6.jpg 84.jpg 7ukbetawp2.jpg 74.jpg 6grasshopper_1920x12001.jpg 5jpbetawp2.jpg 5czolwp32c.jpg 5Banhso_net5D_Hydrangea_973691.jpg 5Banhso_net5D_Hydrangea_97369.jpg 5Banhso_net5D_Hydrangea_52523.jpg

    Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    DANH NGÔN GIÁO DỤC

    TỪ ĐIỂN HAY

    LIÊN KẾT WEB TOÁN

    10 ĐIỀU TÂM NIỆM

    1. Nghĩ đến thân thể thì đừng cầukhông bệnh tật, vì không bệnh tật thì dục vọng dễsanh.

    2. Ở đời đừng cầu không khó khăn, vì không khókhăn thì kiêu sa nổi dậy.

    3. Cứu xét tâm tánh đừng cầu không khúc mắc, vìkhông khúc mắc sở học không thấu kiệt.

    4. Sự nghiệp đừng cầu không bị trở ngại, vì khôngtrở ngại thì chí nguyện không kiên cường.

    5. Làm việc đừng mong dễ thành, vì việc dễ thànhthì lòng thị thường kiêu ngạo.

    6. Giao tiếp đừng cầu lợi mình, vì lợi mình thìmất đạo nghĩa.

    7. Với người đừng mong tất cả đều thuận theo ýmình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất tựkiêu.

    8. Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp làthi ân mà có ý có mưu đồ.

    9. Thấy lợi đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì hắc ámtâm trí.

    10. Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là hènnhát mà oán thù càng tăng thêm.

    Bởi vậy, Phật đã thiết lập chánh pháp lấy bệnhkhổ làm thuốc thần, lấy hoạn nạn làm thành công,lấy gai gốc làm giải thoát, lấy ma quân làm đạobạn, lấy khó khăn làm sự tác thành, lấy bạn tệbạc làm người giúp đở, lấy kẽ chống nghịch làmngười giao du, coi thi ân như đôi dép, lấy sự xảlợi làm vinh hoa, lấy oan ức làm đà tiến thân. Dođó, ở trong trở ngại mà vượt qua tất cả, ngượclại cầu dễ dàng thì bị khúc mắc. Đức Thế Tônđược giác ngộ ngay trong mọi sự trở ngại. Ươngquật hành hung. Ngày nay, những người học Đạo,trước hết không dấn mình vào sự trở ngại nên khitrở ngại xáp tới thì không thể nào đối phó. Chánhpháp chí thượng vì vậy mất cả, đáng tiếc đánghận biết ngần nào ?
    Trích: Luận Bảo Vương TamMuội

    MỜI XEM CÁ CẢNH

    TIẾP SỨC MÙA THI

    CẢNH ĐẸP VIỆT NAM

    NÉT ĐẸP VIỆT NAM

    BIỂN VÀ EM

    ƯƠM MẦM

    NGÀY MỚI

    CẢM ƠN ĐỜI

    UỐNG TRÀ NHÉ!

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI

    setPosition({element:'advert5', top:0, left:0, minWidth:1000});setPosition({element:'advert7', top:0, right:0, minWidth:1000});setPosition({element:'advert2', top:154, right:0, minWidth:1000});topMenu = new cssMenu("chromemenu", "bottom");var leftMenu = new cssMenu("leftmenu2", "left"); ...

    NĂM MỚI AN KHANG - THỊNH VƯỢNG

    Chào mừng quý vị đến với website của Nguyễn Lai

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Danh nhân đất Vệt >

    Các Sự Kiện Lịch Sử Việt Nam

    Các Sự Kiện Lịch Sử Việt Nam

    55.14.09.26.05.06

    • Trước năm 218 TCN, Việt Nam chưa có chính sử, lúc này truyền thuyết và lịch sử còn hòa quyện vào nhau. Người ta thường hay nhắc tới các truyền thuyết về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Phù Đổng Thiên Vương, Sơn Tinh - Thủy Tinh nhằm giải thích nguồn gốc và sự đấu tranh để tồn tại của dân tộc.
      Từ năm 257 - 208 TCN, Thục Phán, thủ lĩnh người Âu Việt hợp nhất với nước Văn Lang của Lạc Việt, đặt quốc hiệu nước là Âu Lạc, tự xưng là An Dương Vương. Thời kỳ này lịch sử được tái hiện thông qua lăng kính truyền thuyết với việc An Dương xây thành Cổ Loa.
      Từ năm 217 - 111 TCN, Triệu Đà, gốc người Hán, thôn tính Âu Lạc. Sự kiện này cũng được thể hiện qua truyền thuyết về mối tình Trọng Thủy, M?Châu. Sau khi chiếm được Âu Lạc, Triệu Đà lập nước Nam Việt. Nhà Triệu kéo dài 97 năm với năm đời vua: Triệu Đà, Triệu Hồ, Triệu An Tề, Triệu Hưng, Triệu Kiến Đức.
      Năm 113, nội tình nhà Triệu rối ren, nhà Hán thừa cơ đưa quân sang đánh Nam Việt rồi đổi tên Nam Việt thành Giao Chỉ.
      Từ năm 207 TCN - 39 SCN, Việt Nam sống dưới ách đô hộ của nhà Hán.
      Từ 40 - 43, khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Sau thắng lợi, Trưng Trắc lên ngôi vua, đóng đô ở Mê Linh.
      Năm 41, Mã Viện mang 20 vạn quân sang xâm lược nước ta. Năm 43, Hai Bà Trưng thất bại, phải nhảy xuống sông Hát Giang tuẫn tiết.
      Từ năm 43 - 543, Việt Nam sống dưới ách đô hộ của phong kiến phương Bắc. Thời gian này có cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu chống quân Đông Ngô. Bà Triệu tự xưng là Đại Hải Bà Vương, đánh nhau với tướng Đông Ngô là Lục Dân nhưng thất bại.
      Từ năm 544 - 548, khởi nghĩa của Lý Bí 544, Lý Nam Đế xưng vương, đặt tên nước là Vạn Xuân.
      Từ năm 548 - 571, Triệu Quang Phục tiếp tục kháng chiến chống quân Lương và lên ngôi vua là Triệu Việt Vương.
      Từ 571 - 602, Lý Phật Tử, họ hàng với Lý Nam Đế tiêu diệt Triệu Việt vương và lên ngôi. Thời kỳ này phong kiến phương Bắc là nhà Tùy sang xâm lược. Lý Phật Tử đầu hàng, Việt Nam bị nhà Tùy đô hộ.
      Năm 722, khởi nghĩa Mai Thúc Loan. Sau này, cuộc khởi nghĩa thất bại, nước ta chịu sự đô hộ của nhà Đường.
      Từ 791 - 802. Khởi nghĩa Phùng Hưng thắng lợi. Năm 802, nhà Đường tấn công, Việt Nam lại chịu sự đô hộ của nhà Đường.
      Từ 905 - 938, thời kỳ xây nền tự chủ bắt đầu với chiến thắng của cuộc khởi nghĩa Khúc Thừa Dụ. Sau đó tiếp nối là Khúc Thừa Hạo, Khúc Thừa Mỹ, Dương Đình Nghệ.
      Từ 939 - 944, Ngô Quyền thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, lên ngôi vua và đóng đô ở Cổ Loa.
      Từ 944 - 950, Dương Tam Kha cướp ngôi và xưng vương.
      Từ 950 - 965, thời kỳ Hậu Ngô vương. Con của Ngô Quyền là Ngô Xương Văn lật đổ Dương Tam Kha, giành lại ngôi vua cho nhà Ngô.
      Từ 966 - 968, loạn 12 sứ quân.
      Từ 968 - 980, Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân lên ngôi, hiệu Đinh Tiên Hoàng đặt tên nước là Đại Cồ Việt, lấy Hoa Lư làm kinh đô. Năm 979, Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích giết, con là Đinh Toàn mới sáu tuổi được triều thần đưa lên ngôi.
      Từ 980 - 1005. Nhà Tống xâm lược Việt Nam, thái hậu Dương Vân Nga, mẹ của Đinh Toàn mời Lê Hoàng lên ngôi để chỉ huy nhân dân chống Tống. Lê Đại Hành lên ngôi, đóng đô ở Hoa Lư năm 1005, Lê Đại Hành mất.
      Từ 1005 - 1009, thời đại của Lê Trung Tông và Lê Ngọa Triều.
      Từ 1010 - 1028. Lý Công Uẩn được triều thần tôn lên ngôi hoàng đế sau khi Lê Ngọa Triều mất. Năm 1010, Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) cho dời đô về Thăng Long (Hà Nội ngày nay), mở đầu cho thời kỳ phát triển văn hóa Thăng Long.
      Từ 1028 - 1024, triều đại của Lý Thái Tông.
      Từ 1504 - 1072, triều đại của Lý Thánh Tông.
      Từ 1072 - 1128, triều đại của Lý Nhân Tông. Thời kỳ này gắn với các chiến công của Lý Thường Kiệt đánh quân Tống và các thắng lợi trên mặt trận ngoại giao của Thái sư Lê Văn Thịnh.
      Từ 1128 - 1138, triều đại của Lý Thần Tông.
      Từ 1138 - 1175, triều đại của Lý Anh Tông. Thời kỳ này, triều chính rối loạn nhưng nhờ có các trung thần nên cơ đồ nhá Lý vẫn được giữ vững.
      Từ 1176 - 1210, triều đại của Lý Cao Tông. Thời kỳ này chính sự đổ nát, giặc giã, đói kém liên miên. Nhà Lý bắt đầu suy thoái.
      Từ 1211 - 1225, triều đại của Lý Huệ Tông và Chiêu Hoàng. Thời kỳ này triều chính rối ren, lòng người ly tán, nhà Lý không còn đảm đương được vai trò lịch sử nữa. Trần Thủ Độ cùng những người thân tín trong họ nhà Trần làm một cuộc đảo chính cung đình hợp pháp, thông qua các cuộc hôn nhân giữa công chúa Chiêu Thánh và Trần Cảnh, bắt ép công chúa nhường ngôi cho chồng.
      Từ 1225 bắt đầu triều đại nhà Trần.
      Từ 1225 - 1258, triều đại của Trần Thái Tông. Năm 1258, kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất. Dân ta đã dùng chiến tranh du kích, vườn không nhà trống để tiêu hao sinh lực địch, sau đó tổ chức phản công ở Đông Bộ Đầu. Quân Nguyên thua, phải rút chạy về nước.
      Từ 1258 - 1278, triều đại của Trần Thánh Tông. Thời kỳ này triều Trần khuyến khích khai khẩn đất hoang, mở mang các điền trang thái ấp, mở các khoa thi để lựa chọn nhân tài, thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo với triều đình phong kiến phương Bắc.
      Từ 1279 - 1293, triều đại của Trần Nhân Tông. Năm 1285, kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai. Các vua Trần tổ chức hội nghị quân sự ở Bình Than, tập trận ở Đông Bộ Đầu đồng thời tổ chức hội nghị Diên Hồng, hỏi ý kiến các bô lão xem nên "hòa" hay nên "đánh". Sau các chiến thắng Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết, Vạn Kiếp, tháng 6-1285, giải phóng kinh đô Thăng Long. Năm 1288, kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ ba. Sau trận chiến trên sông Bạch Đằng, đất nước được giải phóng. Chiến thắng lịch sử gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
      Từ 1293 - 1314, triều đại của Trần Nhân Tông. Đây là một thời kỳ thái bình thịnh trị của vương triều Trần.
      Từ 1314 - 1329, triều đại của Trần Minh Tông.
      Từ 1329 - 1341, triều đại của Trần Hiến Tông.
      Từ 1341 - 1369, triều đại của Trần Dụ Tông. Chính sự bắt đầu đổ nát, gian thần rất nhiều.
      Từ 1370 - 1372, triều đại của Trần Nghệ Tông. Quân Chiêm Thành đánh vào kinh đô, nhà vua phải lánh nạn. Sau đó nhường ngôi cho em là Trần Duệ Tông.
      Từ 1372 - 1377, triều đại của Trần Duệ Tông. Vua đem quân đi đánh Chiêm Thành và chết trong chiến trận.
      Từ 1377 - 1388, triều đại của Trần Phế Đế. Hồ Quý Ly bắt đầu thao túng triều đình.
      Từ 1388 - 1398, triều đại của Trần Thuận Tông. Thời kỳ này quyền hành thực chất nằm trong tay Hồ Quý Ly.
      Từ 1398 - 1400, triều đại của Trần Thiếu Đế. Năm 1400, Hồ Quý Ly ép Thiếu Đế nhường ngôi. Triều đại nhà Trần chấm dứt.
      Từ 1400 - 1401, triều đại Hồ Quý Ly. Nhiều cải cách táo bạo được thực thi như mở mang thi cử, phát hành tiền giấy tăng cường quân đội thường trực, định ra hình luật. Tuy nhiên các cải cách này không được sự ủng hộ của toàn dân.
      Từ 1401 - 1407, triều đại Hồ Hán Thương nhưng thực chất Hồ Quý Ly vẫn cầm quyền. Quân Minh sang xâm lược.
      Từ 1407 - 1414, thời kỳ hậu Trần gồm các triều đại của Giản Định Đế và Trùng Quang Đế chống quân Minh nhưng không thành công.
      Từ 1428 - 1433, thời kỳ mở đầu triều đại Lê Sơ bắt đầu từ triều đại của Lê Thái Tổ (Lê Lợi). Năm 1418, Lê Lợi khởi binh. 1427 quân Minh thua phải rút quân. 1428 Nguyễn Trãi thay mặt vua viết "Bình Ngô đại cáo", một bản tuyên ngôn độc lập của nước ta, khẳng định chủ quyền, cương vực, đánh dấu một sự phát triển mới trong lịch sử dựng và giữ nước.
      Từ 1433 - 1442, triều đại của Lê Thái Tông. Thời kỳ này có một vụ án lịch sử lớn: "Tru di Tam tộc" Nguyễn Trãi.
      Từ 1442 - 1459, triều đại của Lê Nhân Tông. Thời kỳ có loạn Lê Nghi Dân, nhà vua bị giết năm 19 tuổi.
      Từ 1460 - 1497, triều đại của Lê Thánh Tông. Đây là thời kỳ thịnh trị của triều Lê với sự ra đời của bộ luật Hồng Đức - một bộ luật hoàn chỉnh, có nhiều điểm tiến bộ.
      Từ 1498 - 1504, triều đại của Lê Hiến Tông.
      Từ 1504 - 1509, triều đại của Lê Túc Tông, sau đó là Lê Uy Mục.
      Từ 1509 - 1516, triều đại của Lê Tương Dực. Nhà Lê suy thoái.
      Từ 1516 - 1522, triều đại của Lê Chiêu Tông. Đại thần Mạc Đăng Dung phế Lê Chiêu Tông, dựng Lê Cung Hoàng lên ngôi.
      Từ 1522 - 1527, triều đại Lê Cung Hoàng nhưng quyền hành thực chất nằm trong tay họ Mạc.
      Từ 1527 - 1529, Mạc Đăng Dung lập nên triều Mạc.
      Từ 1530 - 1592, các triều đại Mạc Đăng Doanh, Mạc Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên, Mạc Mậu Hợp.
      Từ 1533 - 1578, thời kỳ nhà Lê Trung Hưng bắt đầu từ Lê Trung Tông, Lê Anh Tông, Lê Kính Tông, Lê Thần Tông, Lê Chân Tông, Lê Huyền Tông, Lê Gia Tông, Lê Hy Tông, Lê Dụ Tông, Lê Du Phường, Lê Thuần Tông, Lê Yý Tông, Lê Hiển Tông, Lê Chiêu Thống. Sau 50 nội chiến Lê - Mạc, nhờ Trịnh Tùng Mạc Mậu Hợp bị bắt. Nhà Mạc chấm dứt. Vai trò của nhà Trịnh nổi lên và bắt đầu thời kỳ vua Lê, Chúa Trịnh. Thời kỳ cuối cùng của nhà Lê Trung Hưng, triều chính nát bét. Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc dẹp Trịnh, đưa Lê Duy Cận lên làm giám quốc. Lê Chiêu Thống vì quyền lợi cá nhân sang cầu viện nhà Mãn Thanh. Quân Thanh kéo quân vào xâm lược Việt Nam.
      Năm 1789, trận Đống Đa. Quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ đã chiến thắng quân Thanh, giành độc lập cho Tổ quốc.
      Từ 1545 - 1788, triều đại của nhà Trịnh nắm thực quyền bên cạnh sự tồn tại của vua Lê và Chúa Nguyễn Đàng trong (bắt đầu từ chúa Nguyễn Hoàng - 1558).
      Năm 1548 Trịnh Kiểm bắt đầu nắm quyền binh. Triều đại của Trịnh Kiểm bắt đầu từ 1545 - 1570. Tiếp đó là các chúa Trịnh Tráng, Trịnh Tạc, Trịnh Can, Trịnh Cương, Trịnh Giang, Trịnh Doanh, Trịnh Sâm, Trịnh Cán, Trịnh Khải và Trịnh Bồng.
      Từ 1672 có sự phân chia Đàng trong (chúa Nguyễn) và Đàng ngoài (chúa Trịnh + Vua Lê) lấy sông Gianh làm giới tuyến.
      1782 loạn kiêu binh. Sự kiện này được miêu tả rất rõ trong tiểu thuyết lịch sử - "Hoàng Lê nhất thống trí".
      1558, Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, Quảng Nam. Bắt đầu từ đây, nhà Nguyễn khởi nghiệp với 9 đời chúa là Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên, Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Tần, Nguyễn Phúc Thái, Nguyễn Phúc Chu, Nguyễn Phúc Thụ, Nguyễn Phúc Khoát, Nguyễn Phúc Thuần. Tới năm 1174, quân Trịnh chiếm được Phú Xuân đặt quan cai trị Thuận Hóa. Nguyễn Phúc Thuần chết, kết thúc giai đoạn lịch sử 9 chúa Nguyễn Đàng trong.
      Từ 1778 - 1802, triều đại Tây Sơn.
      Năm 1771, anh em Tây Sơn (Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ) phất cờ khởi nghĩa. Nhà Tây Sơn hòa hoãn với chúa Trịnh để đánh chúa Nguyễn.
      1778 Nguyễn Nhạc lên ngôi hoàng đế, lập nên triều đại Tây Sơn.
      1784 Nguyễn Aánh sang cầu viện Xiêm. Nguyễn Huệ đánh tan quân Xiêm ở trận Rạch Giầm - Xoài Mút.
      1786, Nguyễn Huệ ra Thăng Long diệt Trịnh phù Lê.
      1788, Lê Chiêu Thống dẫn đường quân Thanh vào xâm lược nước ta.
      1789, Nguyễn Huệ chỉ huy quân đại quân đánh tan quân Thanh ở Ngọc Hồi, Đống Đa.
      1792 vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) từ trần. Từ đây triều đại Tây Sơn bắt đầu suy thoái.
      Từ 1793 - 1802, triều đại của Cảnh Thịnh (con vua Quang Trung). Chính sự rối loạn do nhà vua tin lời gian thần.
      1800 Nguyễn Aánh đánh Quy Nhơn.
      1801 Nguyễn Aánh đánh Phú Xuân.
      1802 Nguyễn Aánh đánh kinh thành Thăng Long. Triều Tây Sơn chấm dứt.
      Từ 1802 - 1945, triều đại của nhà Nguyễn, bắt đầu từ Nguyễn Aánh (Gia Long). Nếu tính cả các chúa Nguyễn, bắt đầu từ Nguyễn Hoàng (1558) nhà Nguyễn tồn tại ở miền Nam 367 năm.
      1802, sau khi diệt xong nhà Tây Sơn, Nguyễn Aánh lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long, đóng đô ở Phú Xuân (Huế).
      1815 bộ "Quốc triều hình luật" được ban hành.
      Từ 1820 - 1840, triều đại của Minh Mạng.
      Năm 1821, dựng lại Quốc Tử Giám, mở thi hội và thi đình. Thực thi các chính sách khuyến nông, tìm hiểu kỹ thuật đóng tàu của châu Âu. Về ngoại giao: thần phục nhà Thanh, nhưng nghi k?Pháp nên có hàng loạt chính sách cấm đạo.
      Từ 1841 - 1847, triều đại của Thiệu Trị.
      Từ 1847 - 1883, triều đại của Tự Đức.
      1858 Pháp nổ súng xâm lược Nam Kỳ.
      1883 hòa ước Quý Mùi.
      1885 hòa ước Patơnốt, Việt Nam bị chia làm ba miền: Bắc, Trung, Nam, chịu sự bảo hộ của Pháp.
      1883, triều Dục Đức, chỉ tồn tại trong ba ngày.
      1883 (tháng 6 - tháng 11) triều đại Hiệp Hòa, tồn tại trong sáu tháng.
      1883 - 1884, Triều Kiến Phúc, tồn tại trong tám tháng.
      1884 - 1885, triều đại của Hàm Nghi nhà vua ra chiếu Cần Vương, kêu gọi nhân dân chống Pháp.
      1885 - 1888 triều đại Đồng Khánh.
      1889 - 1907 triều đại của Thành Thái. Nhà vua có ý thức tự cường nên không được thực dân Pháp chấp nhận.
      1907, nhà vua bị ép phải thoái vị.
      1907 - 1916, triều Duy Tân, nhà vua chống Pháp quyết liệt, định tổ chức khởi nghĩa thì bị lộ. Nhà vua bị Pháp đầy sang đảo Rênyông.
      1916 - 1925, triều Khải Định, một triều vua bù nhìn mạt hạng nhất.
      1926 - 1945 triều Bảo Đại. Năm 1945, Bảo Đại thoái vị, chấm dứt chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm ở Việt Nam.
      1859 - 1864, khởi nghĩa Trương Định.
      1861 - 1868 khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực.
      1886 - 1887, khởi nghĩa Ba Đình.
      1885 - 1887, khởi nghĩa Bãi Sậy.
      1886 - 1892, khởi nghĩa Hùng Lĩnh.
      1885 - 1896, khởi nghĩa Hương Khê.
      1887 - 1913, khởi nghĩa Yên Thế.
      1917 - 1918, khởi nghĩa Thái Nguyên.
      1921, bạo động ở Lạng Sơn.
      1930, bạo động ở Yên Bái.
      3.2.1930, Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời.
      1931, phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.
      1936 - 1939, phong trào đấu tranh đòi dân chủ công khai.
      2.9.1945 Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.
      1946 toàn quốc kháng chiến.
      1954 chiến thắng Điện Biên Phủ, Pháp phải ký hiệp nghị Giơnevơ lập lại hòa bình ở Đông Dương.
      1960 Đồng Khởi. Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra đời.
      1968, tổng tiến công tết Mậu Thân. Mỹ tăng cường chiến tranh phá hoại miền Bắc.
      1972 chiến thắng B52, Mỹ phải họp hội nghị ở Paris.
      Ngày 30-1-1973, ký hiệp định Hòa bình và chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Mỹ rút quân.
      30.4.1975, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, miền Nam hoàn toàn được giải phóng.
      Ngày 2-7-1976, Quốc hội khóa VI, kỳ họp thứ nhất quyết định đổi tên nước ta thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
      1986 đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, đề ra đường lối đổi mới.
      (Almanach Kiến thức văn hóa - NXB Văn hóa Thông tin)

    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Văn Lai @ 16:24 01/11/2013
    Số lượt xem: 297
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    KHU LIÊN LẾT

    LIÊN KẾT

    GIải trí

    Xem truyện cười

    HẠNH PHÚC QUANH TA

    SÁCH DANH NGÔN

    GÓC GIẢI TRÍ

    TRA ĐIỂM ĐẠI HỌC

    Xem điểm thi Đại Học !