BÁC HỒ KÍNH YÊU

THẦN TÀI ĐẾN NĂM MỚI

TIN NÓNG ONLINE

CÀ FÊ SÁNG NHÉ

Tin tức online

KHU LIÊN KẾT HAY

LIÊN KẾT CÁC TRANG BÁO

DƯ BÁO THỜI TIẾT

Thời tiết một số địa phương ở nước ta

Nhiệt độ - Thời Gian - Độ ẩm


Hà Nội

Thi tit mt s vùng  nc ta

Tp Hồ Chí Minh

Thi tit Tp H Chí Minh

Huế

Thi tit Hu

Cà Mau

Thi tit Cà Mau

Nha Trang

Thi tit Nha Trang

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (nglaicm@yahoo.com.vn)
  • (nglai1568@gmail.com)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Hinh_nen_web_1.gif THCS_HUIYNH_PHAN_HO1.bmp EXiter.jpg Buel1125R_rrear34.jpg Bmws1000rr66271920x1200.jpg Bmwr1200s63361920x1200.jpg 024132476.jpg 024132474.jpg 024132465.jpg 9nbetawp6.jpg 84.jpg 7ukbetawp2.jpg 74.jpg 6grasshopper_1920x12001.jpg 5jpbetawp2.jpg 5czolwp32c.jpg 5Banhso_net5D_Hydrangea_973691.jpg 5Banhso_net5D_Hydrangea_97369.jpg 5Banhso_net5D_Hydrangea_52523.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Sắp xếp dữ liệu

    DANH NGÔN GIÁO DỤC

    TỪ ĐIỂN HAY

    LIÊN KẾT WEB TOÁN

    10 ĐIỀU TÂM NIỆM

    1. Nghĩ đến thân thể thì đừng cầukhông bệnh tật, vì không bệnh tật thì dục vọng dễsanh.

    2. Ở đời đừng cầu không khó khăn, vì không khókhăn thì kiêu sa nổi dậy.

    3. Cứu xét tâm tánh đừng cầu không khúc mắc, vìkhông khúc mắc sở học không thấu kiệt.

    4. Sự nghiệp đừng cầu không bị trở ngại, vì khôngtrở ngại thì chí nguyện không kiên cường.

    5. Làm việc đừng mong dễ thành, vì việc dễ thànhthì lòng thị thường kiêu ngạo.

    6. Giao tiếp đừng cầu lợi mình, vì lợi mình thìmất đạo nghĩa.

    7. Với người đừng mong tất cả đều thuận theo ýmình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất tựkiêu.

    8. Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp làthi ân mà có ý có mưu đồ.

    9. Thấy lợi đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì hắc ámtâm trí.

    10. Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là hènnhát mà oán thù càng tăng thêm.

    Bởi vậy, Phật đã thiết lập chánh pháp lấy bệnhkhổ làm thuốc thần, lấy hoạn nạn làm thành công,lấy gai gốc làm giải thoát, lấy ma quân làm đạobạn, lấy khó khăn làm sự tác thành, lấy bạn tệbạc làm người giúp đở, lấy kẽ chống nghịch làmngười giao du, coi thi ân như đôi dép, lấy sự xảlợi làm vinh hoa, lấy oan ức làm đà tiến thân. Dođó, ở trong trở ngại mà vượt qua tất cả, ngượclại cầu dễ dàng thì bị khúc mắc. Đức Thế Tônđược giác ngộ ngay trong mọi sự trở ngại. Ươngquật hành hung. Ngày nay, những người học Đạo,trước hết không dấn mình vào sự trở ngại nên khitrở ngại xáp tới thì không thể nào đối phó. Chánhpháp chí thượng vì vậy mất cả, đáng tiếc đánghận biết ngần nào ?
    Trích: Luận Bảo Vương TamMuội

    MỜI XEM CÁ CẢNH

    TIẾP SỨC MÙA THI

    CẢNH ĐẸP VIỆT NAM

    NÉT ĐẸP VIỆT NAM

    BIỂN VÀ EM

    ƯƠM MẦM

    NGÀY MỚI

    CẢM ƠN ĐỜI

    UỐNG TRÀ NHÉ!

    CHÚC MỪNG NĂM MỚI

    setPosition({element:'advert5', top:0, left:0, minWidth:1000});setPosition({element:'advert7', top:0, right:0, minWidth:1000});setPosition({element:'advert2', top:154, right:0, minWidth:1000});topMenu = new cssMenu("chromemenu", "bottom");var leftMenu = new cssMenu("leftmenu2", "left"); ...

    NĂM MỚI AN KHANG - THỊNH VƯỢNG

    Chào mừng quý vị đến với website của Nguyễn Lai

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Các nhà toán học >

    Lịch sử toán học

    Lịch sử toán học

    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
    Bước tới: menu, tìm kiếm
    Cuốn cẩm nang về tính toán bằng hoàn thiện và cân đối

    Từ toán học có nghĩa là "khoa học, tri thức hoặc học tập". Ngày nay, thuật ngữ "toán học" chỉ một bộ phận cụ thể của tri thức - ngành nghiên cứu suy luận về lượng, cấu trúc, và sự thay đổi. Lĩnh vực của ngành học về Lịch sử Toán học phần lớn là sự nghiên cứu nguồn gốc của những khám phá mới trong toán học, theo nghĩa hẹp hơn là nghiên cứu các phương phápkí hiệu toán học chuẩn trong quá khứ.

    Trước thời kì hiện đại và sự phổ biến rộng rãi tri thức trên toàn thế giới, các ví dụ trên văn bản của các phát triển mới của toán học chỉ tỏa sáng ở những vùng, miền cụ thể. Các văn bản toán học cổ nhất từ Lưỡng Hà cổ đại (Mesopotamia) khoảng 1900 TCN (Plimpton 322), Ai Cập cổ đại khoảng 1800 TCN (Rhind Mathematical Papyrus), Vương quốc Giữa Ai Cập khoảng 1300-1200 TCN (Berlin 6619) và Ấn Độ cổ đại khoảng 800 TCN (Shulba Sutras). Tất cả các văn tự này có nhắc đến Định lý Pythagore; đây có lẽ là phát triển toán học rộng nhất và cổ nhất sau số học cổ đại và hình học.

    Những cống hiến của Hy Lạp cổ đại với toán học, nhìn chung được coi là một trong những cống hiến quan trọng nhất, đã phát triển rực rỡ cả về phương pháp và chất liệu chủ đề của toán học[1].

    Một đặc điểm đáng chú ý của lịch sử toán học cổ và trung đại là theo sau sự bùng nổ của các phát triển toán học thường là sự ngưng trệ hàng thế kỉ. Bắt đầu vào Thời kì Phục Hưng tại Ý vào thế kỉ 16, các phát triển toán học mới, tương tác với các phát hiện khoa học mới, đã được thực hiện với tốc độ ngày càng tăng, và điều này còn tiếp diễn cho tới hiện tại.

    Mục lục

    [ẩn]
    //

    [sửa] Toán học thời sơ khai

    [sửa] Nguồn gốc

    Rất lâu trước những văn tự cổ nhất, đã có những bức vẽ cho thấy một kiến thức về toán học và đo thời gian dựa trên sao trời. Ví dụ các nhà cổ sinh vật học đã khám phá ra các mảnh đất thổ hoàng trong một hang độngNam Phi được trang trí bởi các hình khắc hình học với thời gian khoảng 70.000 TCN[2]. Cũng các di khảo tiền sử được tìm thấy ở châu Phi và Pháp, thời gian khoảng giữa 35000 TCN và 20000 TCN[3], cho thấy các cố gắng sơ khai nhằm định lượng thời gian[4].

    Các bằng chứng còn tồn tại cho thấy việc đếm thời sơ khai chủ yếu là do phụ nữ, những người giữ các vật đánh dấu chu kì sinh học hàng tháng; ví dụ hai mươi tám, hai mươi chín, hoặc ba mươi vạch trên xương hoặc hòn đá, theo sau là một vạch cách biệt khác. Hơn nữa, các thợ săn đã có khái niệm về một, hainhiều cũng như không khi xem xét số bầy thú[5][6].

    Xương Ishango

    Xương Ishango được tìm thấy ở thượng nguồn sông Nil (phía bắc Cộng hòa Dân chủ Congo), thuộc thời kì 20.000 TCN. Bản dịch thông dụng nhất của hòn đá cho ta thấy nó là bằng chứng sớm nhất[7] thể hiện một dãy các số nguyên tốphép nhân Ai Cập cổ đại. Người Ai Cập vào thiên niên kỉ thứ 5 TCN đã vẽ các bức tranh về thiết kế hình học và không gian. Người ta đã khẳng định các hòn đá tế thần ở AnhScotland từ thiên niên kỉ thứ 3 TCN, bao gồm cả các ý tưởng hình học như hình tròn, hình elípbộ ba Pythagore trong thiết kế của nó[8].

    Nền toán học sớm nhất từng biết trong Ấn Độ cổ đại nằm vào khoảng 3000 TCN - 2600 TCNnền văn minh thung lũng Indus (nền văn minh Harappan) của Bắc Ấn ĐộPakistan, đã phát triển một hệ thống các đơn vị đo Thung lũng Indus cổ đại sử dụng hệ cơ số 10, một công nghệ gạch đáng ngạc nhiên sử dụng các tỉ lệ, các đường đi được đặt trên một góc vuông hoàn hảo, và một số các hình hình học và thiết kế, bao gồm hình hộp chữ nhật, thùng phi, hình nón, hình trụ và các bức vẽ các hình trònhình tam giác cắt nhau và đồng qui. Các dụng cụ toán học tìm được bao gồm một thước đo cơ số 10 với độ chia nhỏ và chính xác, một dụng cụ vỏ sò hoạt động như một chiếc com pa để đo góc trên mặt phẳng hoặc theo các bội của 40-360 độ, một dụng cụ vỏ sò để đo 8-12 phần của đường chân trời và bầu trời, và một dụng cụ để đo vị trí của các sao nhằm mục đích định hướng. Bản viết tay Indus vẫn chưa được giải nghĩa; do đó ta biết được rất ít về các dạng viết của toán học Harappan. Các bằng chứng khảo cổ đã làm các nhà sử học tin rằng nền văn minh này đã sử dụng hệ đếm cơ số 8 và đạt được các kiến thức về tỉ lệ giữa chu vi của đường tròn đối với bán kính của nó, do đó tính được số π[9].

    [sửa] Toán học của người Maya

    [sửa] Cận Đông cổ đại

    [sửa] Lưỡng Hà

    Bài chi tiết: Toán học Babylon
    Bảng tính vạch trên đất sét YBC 7289 với chú giải chữ số hiện đại
    YBC 7289 sketch.svg

    Toán học Babylon là ám chỉ bất kì nền toán học nào thuộc về cư dân Lưỡng Hà (Iraq ngày nay) từ buổi đầu Sumer cho đến đầu thời kì Hy Lạp hóa. Nó được đặt tên là toán học Babylon là do vai trò trung tâm của Babylon là nơi nghiên cứu, nơi đã không còn tồn tại sau thời kì Hy Lạp hóa. Các nhà toán học Babylon đã trộn với các nhà toán học Hy Lạp để phát triển toán học Hy Lạp. Sau đó dưới Đế chế Arab, Iraq/Lưỡng Hà, đặc biệt là Baghdad, một lần nữa trở thành trung tâm nghiên cứu quan trọng cho toán học Hồi giáo.

    Đối lập với sự thiếu thốn nguồn tài liệu của toán học Hy Lạp, sự hiểu biết về toán học Babylon của chúng ta là từ hơn 400 miếng đất sét khai quật được từ những năm 1850. Viết bằng kí tự Cuneiform, các miếng đất sét này được viết trong khi đất sét còn ẩm, và được nung cứng trong lò hoặc bằng nhiệt từ Mặt Trời. Một số trong đó có vẻ là bài tập về nhà.

    Bằng chứng sớm nhất về các văn tự toán học là từ thời những người Sumer cổ đại, những người đã xây nên nền văn minh sớm nhất ở Lưỡng Hà. Họ đã phát triển một hệ đo lường phức tạp từ 3000 TCN. Khoảng 2500 TCN trở về trước, người Sumer đã viết những bảng nhân trên đất sét và giải các bài tập hình học và các bài toán chia. Dấu vết sớm nhất của hệ ghi số Babylon cũng là trong khoảng thời gian này[10].

    Một lượng lớn các tấm đất sét đã được phục hồi là vào khoảng 1800 TCN tới 1600 TCN, và bao gồm các chủ đề về phân số, đại số, phương trình bậc babậc bốn, các tính toán về các bộ ba Pythagore (xem Plimpton 322)[11]. Các tấm này cũng bao gồm cả bảng nhân, bảng lượng giác và các phương pháp giải phương trình tuyến tínhphương trình bậc hai. Tấm đất sét YBC 7289 đã đưa ra một xấp xỉ của số √2 chính xác tới năm chữ số thập phân.

    Toán học Babylon được viết bằng hệ cơ số 60. Do việc này mà ngày nay ta sử dụng 60 giây trong một phút, 60 phút trong một giờ và 360 (60 × 6) độ trong một vòng tròn. Các tiến bộ của người Babylon trong toán học phát triển dễ dàng bởi số 60 có rất nhiều ước số. Cũng vậy, không giống người Ai Cập, Hy Lạp và La Mã, người Babylon có một hệ ghi số với cách viết số chia theo hàng, trong đó các chữ số viết ở cột bên trái thể hiện giá trị lớn hơn, giống như hệ thập phân. Thế nhưng họ lại thiếu một kí hiệu tương đương của dấu thập phân, và do đó hàng trong cách viết số thường được suy ra từ ngữ cảnh.

    [sửa] Ai Cập

    Bài chi tiết: Toán học Ai Cập
    Giấy cói Moskva
    Giấy cọ Rhind

    Toán học Ai Cập là ám chỉ toán học được viết dưới tiếng Ai Cập.

    Toán học Ai Cập cổ đại được đánh dấu bởi nhân vật truyền thuyết Thoth, người được coi là đã đặt ra mẫu tự Ai Cập, hệ thống chữ số, toán học và thiên văn học, là vị thần của thời gian.

    Từ thời kì Hy Lạp hóa, tiếng Hy Lạp đã thay thế tiếng Ai Cập trong ngôn ngữ viết của các nhà học giả Ai Cập, và từ thời điểm này, toán học Ai Cập hợp nhất với toán học Hy Lạp và Babylon để phát triển toán học Hy Lạp. Nghiên cứu toán học ở Ai Cập sau đó được tiếp tục dưới Đế chế Arab như là một phần của toán học Hồi giáo, khi tiếng Ả Rập trở thành ngôn ngữ viết của các nhà học giả Ai Cập.

    Văn tự toán học cổ nhất tìm được cho tới nay là giấy cói Moskva, một văn tự bằng giấy cói của Vương quốc giữa Ai Cập vào khoảng 2000—1800 mà ngày nay ta gọi là "bài toán chữ", rõ ràng là chỉ để giải trí. Một bài toán được coi là quan trọng ở mức nói riêng bởi nó đưa ra phương pháp tìm thể tích của một hình cụt: "Nếu bạn biết: một hình chóp cụt có chiều cao 6, diện tích đáy lớn 4, diện tích đáy nhỏ 2. Bạn sẽ bình phương số 4 này, được 16. Bạn sẽ nhân đôi 4, được 8. Bạn sẽ bình phương 2, được 4. Bạn sẽ cộng 16, 8, và 4 được 28. Bạn sẽ lấy một phần ba của 6, được 2. Bạn nhân 28 với 2 được 56. Và 56 là số bạn cần tìm."

    Eratosthenes
    Sàng Eratosthenes lọc số nguyên tố

    Giấy cọ Rhind (khoảng 1650 TCN) là một văn bản toán học Ai Cập quan trọng khác, một hướng dẫn trong số học và hình học. Cùng với việc đưa ra các công thức diện tích và phương pháp nhân, chia và làm việc với phân số đơn vị, nó cũng chứa các bằng chứng về các kiến thức toán học khác (xem [2]) bao gồm hợp sốsố nguyên tố; trung bình cộng, trung bình nhântrung bình điều hòa; và hiểu biết sơ bộ về sàng Eratosthenessố hoàn hảo. Nó cũng chỉ ra cách giải phương trình tuyến tính bậc một cũng như cấp số cộngcấp số nhân.

    Cũng vậy, ba thành phần hình học có trong giấy cọ Rhind nói đến những kiến thức đơn giản nhất của hình học giải tích: (1) Đầu tiên và quan trọng nhất, làm thế nào để xấp xỉ số π chính xác tới dưới một phần trăm; (2) thứ hai, một cố gắng cổ đại trong việc cầu phương hình tròn; (3) và thứ ba, sự sử dụng sớm nhất từng biết về lượng giác.

    Cuối cùng, giấy cọ Berlin cũng cho thấy người Ai Cập cổ đại có thể giải phương trình đại số bậc hai.

    [sửa] Toán học Hy Lạp và Hy Lạp hóa cổ đại (khoảng 550 TCN-300)

    Bài chi tiết: Toán học Hy Lạp

    Toán học Hy Lạp là ám chỉ toán học được viết bằng tiếng Hy Lạp khoảng giữa 600 TCN và 450[12]. Các nhà toán học Hy Lạp sống ở các thành phố rải rác trên toàn bộ Địa Trung Hải, từ Ý tới Bắc Phi, nhưng lại thống nhất về văn hóa và ngôn ngữ. Toán học Hy Lạp đôi khi được gọi là toán học Hellenistic (Hy Lạp hóa).

    Thales xứ Miletus

    Toán học Hy Lạp đã trở nên phức tạp hơn rất nhiều so với các nền văn hóa trước đó. Tất cả các ghi chép còn tồn tại của các nền toán học tiền Hy Lạp đều cho thấy việc sử dụng suy luận qui nạp, nghĩa là, các quan sát liên tục được sử dụng để lập nên các phép đo dựa trên kinh nghiệm. Người Hy Lạp sử dụng lí luận logic để đạt được các kết luận từ các định nghĩa và tiên đề[13].

    Định lý Thales-cơ sở cho phép đo hình học và toán học mêtric: \textstyle \frac{DE}{BC} = \frac{AE}{AC } = \frac{AD}{AB}

    Toán học Hy Lạp dường như bắt đầu với Thales (khoảng 624 - khoảng 546 TCN) và Pythagoras (khoảng 582 — khoảng 507 TCN). Mặc dù tầm ảnh hưởng không còn, họ có thể vẫn phát triển ý tưởng từ toán học Ai Cập, Babylon, và có thể cả Ấn Độ. Theo truyền thuyết, Pythagoras đã chu du tới Ai Cập để học toán học, hình học, và thiên văn từ các đạo sĩ Ai Cập.

    Thales đã sử dụng hình học để giải các bài toán như là tính chiều cao của các hình chóp và khoảng cách từ các tàu tới bờ biển. Pythagoras được coi là người đầu tiên đưa ra chứng minh cho định lý Pythagore, mặc dù phát biểu của định lý đã đi qua một chặng đường lịch sử dài. Trong lời bình luận về Euclid, Proclus phát biểu rằng Pythagoras đã diễn đạt định lý mang tên ông và dựng nên bộ ba Pythagore một cách đại số hơn là hình học. Trường học của Plato có câu khẩu hiệu: "Không để những thứ nông cạn trong hình học vào đây."

    Học thuyết Pythagoras đã khám phá ra sự tồn tại của các số hữu tỉ. Eudoxus (408 - khoảng 355 TCN) đã phát minh ra phương pháp vét cạn, tiền thân của khái niệm hiện đại tích phân. Aristotle (384 - khoảng 322 TCN) đã lần đầu viết ra các luật về logic. Euclid (khoảng 300 TCN) là ví dụ sớm nhất của một khuôn mẫu mà vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay, định nghĩa, tiên đề, định lý, chứng minh. Ông cũng nghiên cứu về các đường conic. Cuốn sách của ông, Cơ bản, được tất cả những người có học biết đến ở phương Tây cho đến giữa thế kỉ 20[14]. Thêm vào các định lý quen thuộc của hình học, như định lý Pythagore, Cơ bản còn có cả chứng minh rằng căn bậc hai của hai là số vô tỉ và có vô hạn số nguyên tố. Sàng Eratosthenes (khoảng 230 TCN) đã được sử dụng để tìm các số nguyên tố.

    Một số người nói rằng người vĩ đại nhất trong các nhà toán học Hy Lạp, nếu không muốn nói là mọi thời đại, là Archimedes (287212 TCN) xứ Syracuse. Theo như Plutarch, ở tuổi 75, trong khi đang vẽ các công thức toán học ở trên cát, ông đã bị một tên lính La Mã dùng giáo đâm chết. Roma cổ đại để lại ít bằng chứng về sự quan tâm vào toán học lý thuyết.

    [sửa] Toán học Ấn Độ cổ đại (khoảng 1500 TCN-200 CN)

    Bài chi tiết: Toán học Ấn Độ

    Toán học Vedic bắt đầu vào đầu thời kì Đồ Sắt, với Shatapatha Brahmana (khoảng thế kỉ 9 TCN), trong đó có xấp xỉ số π chính xác tới 2 chữ số thập phân[15]Sulba Sutras (khoảng 800-500 TCN) là các văn bản hình học sử dụng số vô tỉ, số nguyên tố, luật ba, và căn bậc ba; tính căn bậc hai của 2 tới năm chữ số thập phân; đưa ra phương pháp cầu phương hình tròn, giải phương trình tuyến tínhphương trình bậc hai; phát triển bộ ba Pythagore theo phương pháp đại số, phát biểu và nêu chứng minh cho Định lý Pythagore.

    Pāṇini (khoảng thế kỉ 5 TCN) đã lập công thức cho ngữ pháp của tiếng Phạn. Kí hiệu của ông tương tự với kí hiệu toán học, và sử dụng các ngôn l



    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Văn Lai @ 08:45 22/06/2013
    Số lượt xem: 365
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến

    KHU LIÊN LẾT

    LIÊN KẾT

    GIải trí

    Xem truyện cười

    HẠNH PHÚC QUANH TA

    SÁCH DANH NGÔN

    GÓC GIẢI TRÍ

    TRA ĐIỂM ĐẠI HỌC

    Xem điểm thi Đại Học !